Một cách trả lời những day dứt của Nguyễn Huy Tưởng về vở kịch Vũ Như Tô – Bài viết của tác giả Thái Thị Hải 

Vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng ra đời từ năm 1941, khi còn sống, tác giả đã vô cùng day dứt vì chính ông cũng không giải quyết được một cách rạch ròi, dứt khoát câu hỏi Vũ Như Tô có tội hay có công? Nhà văn đã phải trực tiếp bày tỏ nỗi băn khoăn của mình trong lời Tựa vở kịch Vũ Như Tô:

“Đài Cửu Trùng không thành, nên mừng hay nên tiếc?”

“Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Tức là vì cảm phục “tài trời” và nhạy cảm với bi kịch của một tài năng siêu việt.

Cho tới nay (2026), gần một thế kỉ đã trôi qua, ta có thể trả lời câu hỏi đó qua việc tìm hiểu mâu thuẫn mang tính bi kịch của Vũ Như Tô với những kẻ giết Vũ Như Tô.

Tác giả bài viết – Thái Thị Hải

 *****

Trước hết có thể khẳng định: Vũ Như Tô không có tội. Ông là một nhân vật bi kịch, một nghệ sĩ khao khát hiến dâng tất cả cho nghệ thuật bằng tài năng, lòng dũng cảm và niềm tin cao quý của mình.

Vũ Như Tô là nhà kiến trúc – nhà nghệ sĩ có tầm nhìn xa hơn những người cùng thế hệ, ông đi trước thời đại của mình. Ông thấy được một công trình nghệ thuật có tính dân tộc, tính nhân dân và tầm vóc nhân loại của một Cửu Trùng Đài. Tầm nhìn ấy sánh ngang với những người xây dựng nên Kim Tự Tháp Kêốp (Ai Cập) và Vạn Lí Trường Thành (Trung Quốc). Đồng thời, Vũ Như Tô còn là một tài năng siêu việt có thể “tranh tinh xảo với hóa công”. Nhưng chỉ là một người dân bình thường, không có điều kiện thực tế để tạo nên cái Đẹp là Cửu Trùng Đài, ông phải mượn tay Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa ở thế kỉ 16, khao khát xây dựng Cửu Trùng Đài làm nơi vui chơi với cung nữ, để thực hiện hoài bão tạo nên cái Đẹp cho muôn đời. Tầm nhìn ấy khiến ông chọn biện pháp thực hiện mục đích hoàn toàn phù hợp. Trí tuệ ấy bộc lộ sự quyền biến, linh hoạt, thông minh của người nghệ sĩ trong tình thế nan giải; chứ không phải như ý kiến nào đó cho rằng, “Khát vọng, đam mê sáng tạo nghệ thuật của ông… chưa đúng vì đặt nhầm chỗ, vì xa rời thực tế, vì lợi dụng giai cấp cầm quyền tàn bạo để thực hiện mục đích của mình”.

Tiếp tục bảo vệ công trình đang dang dở để sáng tạo cái Đẹp là cách hành xử thông minh và dũng cảm, nhằm thực hiện khát vọng vươn tới lí tưởng của Vũ Như Tô. Để xây dựng Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô phải lựa chọn. Một bên là lòng căm thù Lê Tương Dực, không muốn xây dựng Cửu Trùng Đài để phục vụ cuộc sống xa hoa tàn ác dựa trên sự bóc lột dân chúng. Với một bên là phải giấu đi lòng căm ghét ấy, sử dụng của cải ấy để xây dựng cái Đẹp cho dân tộc, cho đất nước. Cuộc đấu tranh ấy đã diễn ra trong ông. Nhờ sự phân giải, thuyết phục của “biệt nhỡn liên tài” Đan Thiềm, Vũ Như Tô đã xác định đúng hành động sáng tạo Cửu Trùng Đài.

Đã xác định rồi, xây dựng được một phần rồi, ông phải sống và đấu tranh cho nó. Trong suốt hồi V, trong khi bọn quan lại tay sai của Lê Tương Dực như Nguyễn Vũ, thái giám Lê Trung Mại khóc thương cho cái chết của bạo chúa, thì Vũ Như Tô chỉ lo cho số phận của Cửu Trùng Đài. Khi nghe tin thợ theo Trịnh Duy Sản, sau đó đến tin An Hòa Hầu sai đốt kinh thành, hai lần, chỉ có một câu hỏi khiến Vũ Như Tô nóng lòng, sốt ruột: “Thế còn Cửu Trùng Đài?”

Số phận cái Đẹp mới bắt đầu hình thành và phát triển là điều ông quan tâm và quyết định hành động của mình. Đó là những hành động kịch bộc lộ phẩm chất tốt đẹp của ông.

Việc ông không trốn chạy theo lời khuyên chân thành của Đan Thiềm không phải là Vũ Như Tô “đắm chìm trong mơ mộng” hoặc bướng bỉnh “tranh phải trái với số phận và với cuộc đời” như một số ý kiến phân tích. Mà vì ông quá hiểu rằng dù ở lại hay trốn đi, số phận Cửu Trùng Đài chính là số phận của ông. Cửu Trùng Đài còn thì ông còn. Cửu Trùng Đài bị phá hủy, cuộc đời ông hết ý nghĩa. Bởi cái Đẹp của nghệ thuật đích thực, chính là giá trị tinh thần của người nghệ sĩ. Ông phải ở lại để đấu tranh cho cái Đẹp – tức cho mình. Cái Tôi cá nhân của nghệ sĩ Vũ Như Tô sẽ vĩnh viễn tồn tại trong cái Ta của dân tộc. Nguyễn Huy Tưởng muốn nói lên điều đó. Sự thông minh và dũng cảm của Vũ Như Tô như một bản tuyên ngôn bất tử: “Tôi không trốn đâu. Người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cũng phải để cho mọi người biết rằng công việc mình làm là chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả đây thì tôi chạy đi đâu?”. Câu hỏi không chỉ khước từ việc chạy trốn mà còn là lời tự khích lệ mình: Sự nghiệp mình làm là đúng: “Không chịu xa Cửu Trùng Đài một bước. Tôi quyết ở đây”.

Không chịu bỏ trốn thể hiện vẻ đẹp của tâm hồn Vũ Như Tô. Trong khó khăn, nguy hiểm, ông biết sống bằng hi vọng, bằng niềm tin vào lẽ phải của chính mình. Không thể coi hành động không chịu bỏ trốn của Vũ Như Tô là “vừa mù quáng vừa cố chấp” nên “cơ hội hòa giải với nhân dân bị bỏ qua” như có ý kiến nào đó đánh giá. Nhà văn Lỗ Tấn từng viết “Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng như những con đường đi trên mặt đất, kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.” Bằng tài năng, sự hiểu biết của mình, ngay cả khi vĩnh biệt tri kỉ Đan Thiềm, Vũ Như Tô vẫn không mất hi vọng. (Buồn rầu, trấn tĩnh ngay)

Vũ Như Tô: (đầy hi vọng) – Ta tội gì? Không, ta chỉ có một hoài bão là tô điểm cho đất nước, đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công. Vậy thì ta có tội gì? Ta xây Cửu Trùng Đài có phải đâu để hại nước? Không, không! … Ta không có tội và chủ tướng các người sẽ cởi trói cho ta, để ta xây nốt Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở…”, “Vài năm nữa, đài Cửu Trùng hoàn thành, cao cả, huy hoàng, giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai…”. Nếu không có hi vọng, niềm tin và mơ ước, người nghệ sĩ không thể trở thành nhà tiên tri nhìn thấy trước tương lai. Nguyễn Huy Tưởng, Văn Cao, Tố Hữu đã từng là nhà văn, nhạc sĩ, nhà thơ như thế. Cái đẹp trong tương lai chính là cái vì nó mà họ tranh đấu, dù phải đầu rơi, máu chảy. Vì vậy, khi bị lũ quan mỉa mai tàn nhẫn về số phận của mình, Vũ Như Tô đã khẳng định một cách trang trọng, thiêng liêng: “Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”. Vì ông tin rằng người có thể ra đi vĩnh viễn nhưng cái Đẹp sẽ trường tồn với trăng sao.

Vũ Như Tô đứng trên lập trường của người nghệ sĩ – tinh hoa của nhân dân – để sáng tạo cái đẹp. Không thể viết như một ý kiến nào đó rằng “Vũ Như Tô chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân”. Viết như vậy là cực đoan, là không biện chứng. Bởi cái đẹp là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ tinh hoa của nhân dân. Không thể đối lập cái Đẹp với nhân dân, với cái Thiện. Hơn nữa, bản thân cái Đẹp đã mang trong lòng nó cái Thiện. Những kim tự tháp Ai Cập cổ đại, những Vạn Lí Trường Thành, những bích họa Ý thời Phục Hưng, những cung điện Versailles (Pháp), cung điện Mùa Đông (Nga), lăng tẩm vua chúa nhà Nguyễn (Việt Nam)… chẳng phải do bàn tay, khối óc, mồ hôi, nước mắt của nhân dân đó sao? Hậu thế ngày nay vô cùng kinh ngạc, không sao lí giải nổi: những người Ai Cập cổ xưa đã vận chuyển những khối đá nặng hàng tạ, hàng tấn bằng cách nào để xây dựng nên Kim Tự Tháp? Cái Thiện nằm trong cái Đẹp chính là ở chỗ: nó khẳng định giá trị sáng tạo khổng lồ của nhân dân. Cái Đẹp là sự nghiệp của quần chúng.

Từ những luận chứng trên ta rút ra kết luận thứ nhất: Đúng như Vũ Như Tô đã tự tin khẳng định trước thanh thiên bạch nhật: ông không có tội. Khát vọng cùng nhân dân xây nên Cửu Trùng Đài dưới sự hướng dẫn của một kiến trúc sư tài năng siêu việt như ông là có công. Nếu Cửu Trùng Đài được hoàn thành, chẳng phải nước Nam ta có thể kiêu hãnh với thế giới về một công trình nghệ thuật mang tính dân tộc và in đậm dấu ấn của một triều đại phong kiến nhà Lê, như Tháp Chàm, như Ang-ko-Vat (Campuchia). Lúc bấy giờ, ai dám bảo Cửu Trùng Đài không phải là cái Đẹp của nhân dân?

Nhưng tài năng của Vũ Như Tô không được thi thố, không được thực hiện vì vấp phải sức cản của hoàn cảnh khách quan và chủ quan – tầm văn hóa bị hạn chế bởi thời đại của nhân dân và sự cô đơn của người nghệ sĩ – Đó chính là bi kịch đau lòng cho cả hai, nhân dân và Vũ Như Tô.

Kết cục, Cửu Trùng Đài bị thiêu hủy và Vũ Như Tô bị thợ thuyền giết. Xung đột bi kịch giữa Vũ Như Tô và nhân dân lên tới đỉnh điểm ở hồi V, cảnh cuối. Một bên là Vũ Như Tô (nhìn ra, rú lên): “Đốt thực rồi! Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài.”

Những tiếng kêu liên tiếp cuối cùng của Vũ Như Tô cho ta thấy từ hi vọng, tin tưởng, cảm thấy vô lí trước việc “Cửu Trùng Đài sắp là một đống tro tàn”, ông đi đến hoàn toàn tuyệt vọng vì tất cả đã đổ vỡ: Khát vọng sáng tạo cái Đẹp không thực hiện được, tri kỉ Đan Thiềm không được tạ lòng, cái Đẹp đã bị hủy diệt. “Các nỗi đau mất mát nhập vào làm một, tạo thành nỗi đau bi tráng tột cùng.”

Và một bên là “tiếng hô vui vẻ của nhiều người: Cửu Trùng Đài đã cháy. Đặc biệt quân sĩ thốt lên: Thật đáng ăn mừng”.

Hoàn toàn không phải như ý kiến nào đó đánh giá là: “Mâu thuẫn thứ hai trong hồi V này là “mâu thuẫn giữa niềm khao khát hiến dâng tất cả cho nghệ thuật của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi ích trực tiếp, thiết thực của đời sống nhân dân”. Nhìn nhận như vậy là không biện chứng, là đẩy Vũ Như Tô sang phía hoàn toàn đối lập với nhân dân. Nếu như vậy, Vũ Như Tô chỉ là con người lãng mạn, xa rời nhân dân và hiện thực cuộc sống. Và nếu quả đúng như thế thì sự đổ vỡ mộng tưởng của Vũ Như Tô không thể tạo nên cái Đẹp cao cả của nhân vật bi kịch. Cùng lắm, chỉ gây nên ở người đọc một tình cảm: thấy ông thật đáng thương. Còn nhân dân bị biến thành đối tượng vô cảm, thô bạo, thậm chí “hồ đồ, mù quáng” như ý kiến ai đó đánh giá. Nhận định như vậy hoàn toàn sai về nhân dân và Vũ Như Tô.

Vậy, nhân dân trong hồi V là những ai? Họ như thế nào?

Nhân dân là những thợ thuyền bị bắt xây dựng Cửu Trùng Đài. Họ quá đói khổ, cực nhục, nhưng chủ yếu là họ không hiểu được mục đích cao đẹp của Vũ Như Tô. Qua lời Đan Thiềm – một cung nữ – “Dân gian đói kém nổi lên tứ tung”, “ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, man di oán hận là vì ông, thần nhân trách móc là vì ông. Cửu Trùng Đài, họ có cần đâu?”. “Họ dấy nghĩa cốt giết ông, phá Cửu Trùng Đài…”. “Vì ông” là điệp ngữ lặp tới năm lần trong lời nói của Đan Thiềm. Họ lẫn lộn và hiểu nhầm mục đích giữa Vũ Như Tô và Lê Tương Dực. Vũ Như Tô sáng tạo nên cái đẹp vĩnh cửu cho nhân dân còn Lê Tương Dực thì hưởng lạc trên đau khổ của dân. Chính vì vậy, sai lầm xảy ra: họ căm hận Vũ Như Tô chẳng kém gì Lê Tương Dực.

Vì quá cực khổ, chịu nhiều tai họa trong thời gian xây Cửu Trùng Đài: thiên tai, mất mùa, đói kém… nên họ cho là điềm xấu, lòng dân hoang mang. Bế tắc trước cuộc sống, lại không được ai tuyên truyền, giải thích về mục đích văn hóa của Cửu Trùng Đài, nên dân tưởng Cửu Trùng Đài là phù phiếm, xa xỉ, thậm chí “Đẫm máu như một bông hoa ác.” Vì thế, “khi dân nổi lên họ nông nổi vô cùng. Họ không phân biệt phải trái”. “Dân chúng nông nổi, dễ sinh tàn ác. Họ không hiểu nổi công việc của ông”. Hai lần nói về tinh thần văn hóa còn bị hạn chế của dân chúng lúc này, Đan Thiềm vô cùng đau đớn trước mâu thuẫn không sao giải quyết nổi của bi kịch Vũ Như Tô.

Do tầm hiểu biết hạn chế nên hành động của dân trong vở kịch hoàn toàn tự phát. Thợ thuyền bỏ về không xây tiếp Cửu Trùng Đài theo hướng dẫn của Vũ Như Tô. Họ theo Trịnh Duy Sản, “chống lại triều đình để trả thù cá nhân. Thậm chí, họ tìm bằng được Vũ Như Tô để giết và đốt Cửu Trùng Đài. Họ không hiểu rằng: biến Cửu Trùng Đài thành tro tàn đồng nghĩa với hành động phá hủy một công trình văn hóa, tức là phá hủy cái đẹp của chính họ, của nhân dân. Một cái Đẹp mới hình thành và đang lớn lên.

Còn, người nghệ sĩ Vũ Như Tô và tri kỉ “biệt nhỡn liên tài” Đan Thiềm của ông lại hoàn toàn cô đơn và không có khả năng làm cho dân chúng hiểu rõ mục đích tốt đẹp của mình.

Cả hai, tuy đều là tinh hoa của nhân dân, xuất thân từ quần chúng, nhưng lại quá cô đơn, ít ỏi trước lực lượng dân chúng vô cùng to lớn. Trong suốt vở kịch, đặc biệt ở hồi V, chỉ có hai con người: nghệ sĩ và hồng nhan tri kỉ thực sự hiểu rõ mục đích và giá trị muôn thuở của việc xây dựng Cửu Trùng Đài. Khi xảy ra biến loạn, cũng duy nhất Đan Thiềm giục Vũ Như Tô đi trốn, và hiểu rằng kẻ nào giết Vũ Như Tô là “phạm vào tội ác” và “sẽ mang hận suốt đời.” Là kiến trúc sư bị bắt xây dựng Cửu Trùng Đài, say mê sáng tạo cái Đẹp; là cung nữ suốt đời bị giam lỏng trong cung, cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều mượn tay Lê Tương Dực để thực hiện mục đích cao cả của người nghệ sĩ. Có điều, mục đích ấy phải hoàn toàn được giấu kín. Vì vậy, họ không thể làm cho dân hiểu được.

Chính bởi thế, tiếng hò vui vẻ “Cửu Trùng Đài đã cháy” và lời quân sĩ “Thật đáng ăn mừng” không hề gieo vào lòng người đọc niềm vui sảng khoái như đứng trước chiến thắng của chân lí. Mà trái lại, với Vũ Như Tô, đó là nỗi tuyệt vọng “chua chát”: “ Thôi thế là hết. Dẫn ta ra pháp trường” bởi Cửu Trùng Đài sụp đổ, cuộc sống của Vũ Như Tô hết ý nghĩa. Không còn cái đẹp để sáng tạo nữa. Còn người đọc chúng ta thì thương tiếc, xót xa cho cái đẹp bị hủy diệt và đau đớn vì sự nông nổi do tầm văn hóa bị hạn chế của nhân dân.

Từ những ý phân tích trên, ta đi đến kết luận thứ hai: Cả Vũ Như Tô và kẻ giết Vũ Như Tô đều không có tội. Họ chính là sản phẩm của thời đại mình. Họ sinh ra và sống trong một triều đại phong kiến suy tàn, không có những bậc minh quân của một đế chế Ai Cập hùng mạnh hay một hoàng đế Tần Thủy Hoàng từng thống nhất cả một Trung Hoa cổ đại sau năm thế kỉ chiến tranh Xuân Thu – Chiến Quốc. Vua của họ là một hôn quân bạo chúa Lê Tương Dực, ăn chơi xa xỉ trên xương máu của nhân dân. Dân chúng thì nghèo đói, bị đày đọa cùng cực và vì thế không được mở mang văn hóa, kém hiểu biết. Một tài năng như Vũ Như Tô không được dân chúng ủng hộ thì cũng không thể thực hiện được lí tưởng cao đẹp của mình.

*****

Những băn khoăn, day dứt của Nguyễn Huy Tưởng chứng tỏ bi kịch của Vũ Như Tô mang ý nghĩa sâu sắc. Từ sự sụp đổ Cửu Trùng Đài và nỗi đau đớn vì không thực hiện được lí tưởng sáng tạo cái Đẹp mà mình khao khát của Vũ Như Tô, tác giả bộc lộ thái độ cảm thông, trân trọng với những nghệ sĩ nhiều tài năng, khát vọng nhưng không có điều kiện thực hiện lý tưởng của mình. Đó chính là chủ đề tư tưởng của vở kịch Vũ Như Tô được thể hiện nổi bật trong hồi V “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”.

Từ bi kịch của Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đặt ra vấn đề “mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với nhân dân”. Cái Đẹp chỉ có được khi xuất hiện người nghệ sĩ nhiều tài năng, khát vọng trên nền tảng ủng hộ của quần chúng.

Muốn có sự ủng hộ của nhân dân, người nghệ sĩ phải tìm mọi cách tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ họ. Mà trước hết phải hiểu được hoàn cảnh sống và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Thực tiễn cho thấy trong kháng chiến chống Pháp, những nhà văn, nhà thơ như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng… đã tham gia vào cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân. Họ đã đưa được sức mạnh to lớn của quần chúng vào văn chương và sáng tạo nên cái Đẹp trong các tác phẩm nghệ thuật xuất sắc như “Đôi mắt” (Nam Cao), “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi), “Sống mãi với thủ đô” (Nguyễn Huy Tưởng)…

*****

Trả lời cho nỗi băn khoăn day dứt của Nguyễn Huy Tưởng trong lời Tựa vở kịch Vũ Như Tô là thắp một nén tâm hương tưởng nhớ tới người nghệ sĩ tài hoa đã dựng nên một Cửu Trùng Đài bằng ngôn ngữ kịch…

 (Hải Phòng 7-2025)