MÁI NHÀ CỦA NHỮNG NGƯỜI DƯNG – Tản văn của LƯƠNG ĐÌNH KHOA

Đêm Giao thừa. Kim đồng hồ trên tháp Bưu điện bờ Hồ nhích từng nhịp về con số 1. Hà Nội sau cơn lên đồng cuồng nhiệt của dòng người xem pháo hoa giờ nằm vật ra. Thở hắt. Trả lại cho mặt đường sự tĩnh mịch lạnh lẽo vốn có.

Gió bấc không thổi, mà nó “cào”. Những lưỡi dao khí lạnh mỏng tang rít qua khe cửa cuốn sắt. Nó thốc vào mặt, luồn vào cổ áo, cuốn đám lá khô cong xoay tít mù ở ngã tư vắng ngắt.

Tôi đứng dưới đèn đường. Ánh cao áp vàng vọt hắt xuống vũng nước mưa loang lổ. Bên kia đường, sau cánh cổng sắt hoa văn uốn lượn của căn biệt thự Pháp, ánh đèn chùm pha lê vẫn sáng trưng. Thấp thoáng bóng người nâng ly rượu vang đỏ. Tiếng nhạc “Happy New Year” vọng ra. Êm ái. Phù phiếm. Và xa vời vợi.

Còn bên này, dưới cái hiên bê tông nứt nẻ chìa ra vỏn vẹn một mét của cửa hàng tạp hóa đóng im ỉm, là một thế giới khác. Tối om. Gió lùa tứ phía. Mùi ẩm mốc bốc lên từ rãnh nước thải nồng nặc. Ở đó có một đống lửa nhỏ đang hổ hển cháy. Và ba cái bóng co ro.

Ba mảnh đời bị cơn bão mưu sinh thổi dạt vào cái “vịnh tránh bão” tạm bợ này. Một bác xe ôm già, mặt đầy rãnh sâu như ruộng cày ải. Áo giả da trên người nổ rộp từng mảng lộ cả vải lót. Một chị đồng nát trùm kín cái khăn len xù lông, ngồi bên chiếc xe thồ chất ngất ngưởng vỏ lon bia. Và một anh cửu vạn gầy gò, mắt trũng sâu, đôi bàn tay đen đúa nứt toác vì bám bụi than.

Chẳng ai nói với ai câu nào. Họ ngồi ba góc, vai so lại, ánh mắt lảng tránh. Mỗi người ôm khư khư cái bọc hành lý bé tẹo vào lòng. Chuyến xe cuối cùng về quê đã lăn bánh từ lâu. Tiền không đủ mua vé chợ đen. Hoặc đơn giản là… chẳng còn quê để về.

Đống lửa ở giữa được nhóm bằng mảnh thùng các-tông xé vụn và vài thanh dát giường gãy. Lửa cháy xèo… xèo… Liếm vào những dòng chữ in mực đen, làm chúng cong lại rồi tan thành tro.

Mùi khói khen khét. Hăng hắc mùi keo dán, nồng nặc mùi gỗ mục. Nó sộc vào mũi cay xè. Nhưng không ai quay đi. Cả ba cứ chụm đầu vào, chìa những bàn tay lạnh cóng ra hứng lấy chút hơi nóng ít ỏi.

Bác xe ôm già cựa mình. Xương khớp kêu lục cục. Bác thò tay vào cái túi vải bạt treo trên ghi-đông xe, lôi ra một chai nhựa đựng thứ nước trong vắt. Rượu. Rượu nếp quê đục ngầu, nút lá chuối.

Rồi bác lôi tiếp từ túi áo ngực một cái bánh chưng nhỏ xíu. Loại bánh gói bằng lá dong thừa, bé bằng bàn tay, mép lá đã vàng úa. Có lẽ là quà của khách đi xe hồi chiều biếu vội.

Bác đặt cái bánh lên viên gạch lát vỉa hè. Bàn tay run rẩy rút con dao nhíp cùn rỉ, chậm rãi cắt dây lạt. Động tác tỉ mẩn, cẩn trọng. Cái bánh bé tẹo chia làm ba phần. Bác ngước đôi mắt đục ngầu nhìn hai người lạ, giọng khàn sệt khói thuốc lào: “Chả chê… mời cô, mời chú… làm tí cho ấm cái bụng. Giao thừa đến đít rồi”.

Chị đồng nát ngập ngừng, rồi cũng thò bàn tay đen đúa, cáu bẩn ra nhón lấy miếng bánh góc. Anh cửu vạn nuốt nước bọt cái ực, cầm lấy chén rượu bác xe ôm vừa rót.

Họ ăn. Im lặng tuyệt đối. Chỉ có tiếng nhai nhóp nhép, trệu trạo giữa tiếng gió rít. Miếng bánh chưng lạnh ngắt. Cứng đơ. Hạt nếp dính chút bụi đường. Nhưng họ ăn mải miết.

Chị đồng nát cắn một miếng nhỏ, nhắm nghiền mắt lại. Cơ mặt giãn dần. Từ khóe mắt chằng chịt vết chân chim, một giọt nước lặng lẽ ứa ra, lăn qua gò má nhem nhuốc, rơi xuống môi. Mặn chát.

Bác xe ôm nâng chén rượu lên, hướng về khoảng không đen ngòm hun hút trước mặt, lầm rầm khấn vái, rồi chuyền chén cho anh cửu vạn: “Uống đi chú mày. Một hơi cho quên xừ cái rét!”.

Anh cửu vạn ngửa cổ. Khà… Rượu trôi qua cổ họng, nóng rực như dòng dung nham chạy dọc sống lưng.

Hơi men và hơi lửa làm giãn nở những khuôn mặt khắc khổ. Sự đề phòng tan biến lúc nào không hay. Họ nhích lại gần nhau. Tự nhiên như cỏ cây tìm về ánh sáng. Vai chạm vai. Đầu gối chạm đầu gối.

Ba cái bóng đen đổ dài lên bức tường cửa sắt phía sau nhập vào làm một. Một cái bóng khổng lồ đang nhảy múa theo nhịp phập phồng của lửa.

Gió bấc vẫn gầm gào điên cuồng, xé toạc màn đêm. Nhưng gió bất lực. Không thể thổi tắt được ngọn lửa trong đáy mắt những người đàn ông, đàn bà xa lạ này. Họ ngồi sát sạt vào nhau, tạo thành bức tường thịt da chắn gió. Mùi mồ hôi chua nồng, mùi quần áo cũ ẩm mốc, mùi dầu gió… quyện vào nhau. Không còn hôi hám nữa. Nó thành mùi của “đồng loại”. Mùi của sự sống.

Phía xa tít tắp, tiếng pháo hoa đì đùng vọng lại. Bầu trời tối đen kịt trên đầu với vài vì sao thưa thớt bỗng trở thành mái nhà chung vĩ đại nhất của những phận đời trôi dạt.

Bác xe ôm vỗ vai anh cửu vạn cái bộp, cười móm mém lộ hàm răng xỉn màu: “Thôi, coi như đây là nhà. Ba anh em mình, đêm nay là người một nhà. Sang năm trời lại sáng thôi, chú mày nhỉ!”.

Chị đồng nát quệt ngang dòng nước mắt, gật đầu lia lịa, ném thêm nắm bìa các-tông vào đống lửa. Bùng! Ngọn lửa bốc lên. Kiêu hãnh. Soi rõ ba khuôn mặt đang rạng rỡ lạ thường giữa đêm trừ tịch.

Tôi đứng lặng trong bóng tối nhìn họ. Tự dưng thấy lòng mình bừng ấm. Giữa cái lạnh cắt da cắt thịt của Hà Nội, hóa ra mùa xuân đã về sớm hơn tôi tưởng. Ngay dưới mái hiên ấm áp trong lòng phố lạnh của những người dưng này.