Hơi ấm len dạ – Tản văn của Vũ Minh Phúc

Nhiều năm trước khi qua đời, ông tôi đã đưa cho tôi một chiếc áo len dạ mà ông luôn mặc trong suốt mùa Đông, các chuyến đi xa, những lần gặp gỡ. Bao giờ cũng làm ra vẻ nghiêm nghị, trong cử chỉ âu yếm như người cha, ông nói ông muốn tôi giữ lại như một khi kỷ vật cuối cùng khi ông trở về thế giới bên kia. “Luôn luôn mang theo”, ông dặn, với giọng nói bình thản. “Nó tuy cũ nhưng vẫn có thể dùng được. Và biết đâu sẽ giúp cháu trở nên ấm áp hơn trong những mùa Đông tiếp theo”.

Khi đó hai ông cháu tôi đang ngồi trong ngôi nhà ở cuối xóm nhỏ, giữa trưa hè tĩnh lặng. Ông tôi mở chiếc tủ ngắm nghía chiếc áo, chốc chốc lại đi đi lại lại như một người đang cố tìm vật gì. Và rồi ông sẽ sàng treo nó lên dây mắc. Đó là giây phút cuối cùng mà tôi nhớ mãi, nhưng giờ nó đã trôi qua và tôi ngày càng lớn lên, giữa cuộc đời sóng gió, đôi khi lời dặn dò của ông lại trở lại và tôi giữ được điềm tĩnh nơi cuộc đời. Ông tôi vẫn giữ nguyên tác phong của một người lính như thế, về những năm tháng xa nhà, về những chuyện chiến trường mà không bao giờ quên của nước Việt ta, và về chuyến đi xuyên rừng về thăm vợ luôn luôn sợ thú dữ, bao giờ cũng gây một cảm xúc mạnh.

Tôi nhớ, rất nhớ khi ông vắng nhà, ngày nào cũng như ngày nào tôi cứ đi tới đi lui trước cái tủ cất giấu chiếc áo dạ mà không dám mở ra. Tôi đã được ông cho mặc thử từ trước đó rồi, hơi ấm của nó, hơi ấm của những lớp áo mịn rất vừa với hình thể của tôi. Ông tôi luôn luôn mang theo bên mình trong những chuyến đi xa, đôi khi ông cũng mặc trong các buổi lễ lớn của làng. Tôi nhớ lúc tôi còn bé, mỗi lúc ông đi xa về, tôi thường tìm cớ để được mặc chiếc áo của ông, mùi mồ hôi tắm đẫm và mùi sông nước chênh chao. Chiếc áo dạ ấy là kỷ vật quen thuộc, một của hồi môn sót lại về năm tháng ấu thơ của tôi, hoài niệm của tôi, nhưng bây giờ tôi chỉ dám để nó trong một góc tâm tưởng. Lý do? Đơn giản và hiển nhiên, bởi cái năng lượng tròn đầy mà nó đã truyền cho tôi từ lời dặn dò đầy kinh nghiệm. Khi tôi đang ngồi đây và viết những dòng suy tư về chiếc áo đó. Thứ mà ông tôi đã nâng niu trong suốt cuộc đời, không muốn rời xa, đã thuộc về quá khứ của năm tháng tuổi già, đã sống và không bao giờ mất đi.

Mỗi lúc đem theo chiếc áo của ông, tôi thấy cái lạnh mùa Đông dường như tan biến, nhưng tôi không biết làm cách nào mà ông có được chiếc áo len dạ này. Tôi bao giờ cũng thấy ông để những thứ cần thiết bên trong túi áo ngực. Nó là một sự phòng xa khi không thể trở về nhà lúc cấp bách. Ông tôi là một người lính, rất yêu sách; hồi sức khỏe xuống dốc, vào những buổi sáng, ông vẫn đi bách bộ rồi tạt qua tiệm sách Nhân dân nằm giữa thị trấn, mang về một vài tập thơ bé xíu của những tác giả lừng danh như Hồ Xuân Hương hay Nguyễn Du, nhưng chiến tranh đã biến ông trở thành một người lính bất đắc dĩ. Mẹ của ông tôi-cố ngoại tôi-đã mất lúc hồi còn trẻ; suốt thời ấu thơ cũng như lúc còn trai tráng ông sống rất chật vật, phải đi ở đợ, gánh nước thuê trên mãi mạn sông Đáp Cầu, nên bao giờ ông cũng muốn các con thoát khỏi đói nghèo, vì ám ảnh. Ông luôn đưa ra những lời khuyên thấu tình đạt lý-Điều đó, chính điều đó thôi, đã khiến tôi tránh được những sai sót trong cuộc đời.

Điều duy nhất khiến tôi muốn cầm nắm chiếc áo của ông tôi là sự tò mò, vì những gì ông cất phía sau túi áo ngực luôn kích thích con trẻ. Ông đã đọc được trong mắt tôi, nên bao giờ ông cũng đặt những câu hỏi nửa vời những mong tôi sẽ quên đi. Khi lên phố thị học hành gần 10 năm, tôi luôn luôn mang theo nó bên mình dù phải dịch chuyển qua nhiều nhà trọ. Có lúc tôi đã định cầm cố chiếc áo nhưng vì sợ ông không bằng lòng nên phải tảng tờ ý định đó ngay. Những khó khăn của tôi, điều mà tôi khó nói hết, đó là ông tôi sẽ lo lắng vì đứa cháu bồng bột. Tôi không bán chiếc áo đó của ông vì tôi sợ ông sẽ buồn. Trớ trêu hơn, tôi còn dám mặc nó trước đám bạn bè cùng lớp mà không sợ già đi so với tuổi của mình. Nếu thực tình chiếc áo dạ của ông có thể vừa vặn với hình thể, tôi sẽ trở nên tự tin khi ra ngoài. Đó là niềm hạnh phúc thầm kín. Bởi dù bây giờ ở tuổi 34 của mình tôi vẫn muốn ông tôi sống lại như một cây cao bóng cả che mát cuộc đời.

Tôi sợ mất chiếc áo dạ của ông như sợ mất người yêu vì nó quá đặc biệt bởi tôi sẽ chẳng tìm đâu để mua được chiếc áo quý giá đó, rằng ông đã sưởi ấm tôi bằng tình cảm dưỡng dục, ân nghĩa sinh thành, lời dạy dỗ ngọt ngào, những bài học cuộc sống, những kinh nghiệm tuổi già. Càng lắng nghe ông tôi càng dễ dàng vượt qua nghịch cảnh. Nhưng trí nhớ tuổi đó, kinh nghiệm sương máu về đường đời và sự nhẫn nhịn, là mũi tên chỉ dẫn mà tôi phải học và mang theo bên mình ngay cả khi không có ai. Có những lúc tôi cảm thấy cô đơn, mệt mỏi và tuyệt vọng, chính lúc ấy, ông lại xuất hiện để an ủi, vỗ về và chỉ dẫn lối đi, trong khi chẳng ai quan tâm tôi và cuộc sống thật ngột ngạt. Ngày ấy, vào lúc ông còn trai tráng còn tôi vẫn còn miệng búng hơi sữa, ông đã gửi lại người vợ thân yêu nhất để tình nguyện làm một người lính hoặc một thủy thủ kỳ cựu của Đoàn thuyền Cần Thơ, khi mà có lúc ông phải chịu cơn đói khát đến cùng cực vào năm 1945, mà một người không quen biết đã bón cho ông một thìa cháo để rồi có thể sống hết ngày này qua ngày khác. Tôi nghĩ rằng để có được chiếc áo len dạ này ông đã phải đắn đo rất nhiều, bởi hồi ấy có người còn phải mặc áo vá hoặc bao tải dứa để chống chịu trong cái lạnh mùa Đông, mà đối với ông đó là một sở hữu đặc biệt.

Nhưng khi ông gửi lại chiếc áo này cho tôi khi không còn nữa, tôi vẫn bóng dáng của ông xuất hiện đâu đó trong ký ức. Ông tôi đôi khi vẫn ngồi trên chiếc chõng tre tre ở phía cuối nhà uống nước vối, thổi sáo hoặc phe phẩy chiếc quạt lan mà mùa hè ở vùng quê thường nóng bức, trong khi bà tôi vẫn cặm cụi với những mớ rau để mang ra chợ bán. Khi tôi thấy ông xuất hiện những cơn ho húng hoắng, run bần bật, suýt té ngã giữa cái bậc thềm trơn ướt-tôi đã rộ lên niềm lo lắng rằng có thể ông sẽ rời xa tôi vào một ngày nào đó. Giờ đây, mấy chục năm trôi qua, tôi biết sự ra đi của ông không phải là cái chết của tuổi già mà chỉ tạm thời vắng mặt hoặc đang đi ngủ. Mua một vài món quà và biếu một chút tiền sẽ không thể nói hết công ơn dưỡng dục: mà người già đôi khi cần có người bên cạnh, một bàn tay khéo léo và tận tụy để chăm chóc, những lời nói lễ phép ngọt ngào, xuôi tai, mà chỉ con cháu mới thực sự làm được. Tôi mong muốn ông sống lại và hy vọng sẽ làm tốt nghĩa vụ của một đứa cháu đối với ông mà khi còn bé tôi đã không hiểu hết. Song cái tình cảm dù cách xa âm dương ấy luôn thúc đẩy những hoài bão đẹp. Sự truyền thụ của những người có tuổi-nhân chứng cuối cùng của một thời kỳ khó khăn bao giờ cũng hưu ích, lý tưởng, bằng cách giữ lấy những thứ vốn quý trong mỗi gia đình, tẩy rửa đi những thứ cám rỗ cuộc sống, thứ mà, luôn len lỏi vào đầu trẻ nhỏ, làm nhụt ý chí thanh niên, -thế hệ trong thời đại mới.

Ông tôi có một niềm say mê đặc biệt với âm nhạc – một bộ sưu tập sáo trúc – từ hồi còn là một người lính. Cho đến khi về sống tại quê nhà, năm 70 tuổi, ông vẫn mang cây sáo ra ngồi trước hiên nhà để thổi những bài tình khúc, âm thanh của sáo trúc làm tôi thích thú, tôi luôn làm nũng để được ông chỉ dạy, nhưng ông chẳng bao giờ dạy tôi vì sợ rằng sự say mê âm nhạc quá độ sẽ khiến tôi xao nhãng việc học hành. Và thế là tôi phải nhờ đến sự cứu cánh của bà tôi, một người ít học, quê mùa nhưng luôn luôn ủng hộ tôi như một thiên thần sa xuống từ trời cao. Trước lời ép buộc ấy, ông tôi buộc phải chiều chuộng tôi bằng cách lên khu vườn sau nhà tìm những ống nứa phẳng phiu rồi ngồi suốt buổi trong gian bếp, nung nóng cái que hàn để khoét thành những lỗ bấm. Nhưng ngày sau tuổi thơ tôi luôn ngập tràn trong tiếng sáo, cứ tan học về tôi lại mang sáo ra đầu làng luyện tập và không lâu sau tôi có thể chơi được những bài dân ca cơ bản. Cái niềm say mê đó tôi vẫn duy trì cho đến khi vào đại học, và cũng chính từ tình yêu ấy với âm nhạc mà tôi có thể giải khuây những nỗi buồn trong những đêm một mình xa nhà. Sau này, cứ mỗi lúc có chương trình văn nghệ của trường hay các buổi giao lưu, tôi luôn trở thành một cây văn nghệ được săn đón. Tôi biết rằng nếu không có ông, tôi đã không thể xây dựng cho mình được một tình yêu với nghệ thuật mãnh liệt đến thế, sau này âm nhạc giúp ích cho tôi khá nhiều trong cuộc đời, giải khuây, viết báo, làm thơ và thậm chí là làm hài lòng cô bạn gái khó tính.

Thế giới tuổi thơ của tôi bao giờ cũng ngập tràn câu chuyện mà ông kể-chuyện chiến tranh-chuyện sông nước-với lời kể trầm hùng. Vào những năm tháng đó, một thằng bé như tôi, luôn luôn thích thú với việc mình sẽ trở thành người lính hay thủy thủ lái tàu, nhưng cuộc đời, như có ngầm ý lại đưa tôi đến mái trường Học viện và trở thành một người viết báo cô đơn. Khi đó tôi vẫn không nghĩ mình sẽ không học thêm gì nữa, -vì gia cảnh quá nghèo, và mẹ tôi lúc nào cũng mong muốn tôi sẽ sớm có công việc ổn định để phụ giúp gia đình vì các khoản thu nhập bấp bênh và một người bố lúc nào cũng ốm yếu. Nhưng khi tôi nhớ về ông, một niềm hạnh phúc lại trỗi dậy, một tình yêu với việc học lại được thắp sáng, sẽ đến trường, sẽ học hành, song mọi chuyện không như tôi nghĩ, rằng tôi không hề có tố chất gì đặc biệt so với những bạn bè khác. Một phần vì ông tôi đã không để lại bất kỳ của hồi môn nào quý già, ngoài những lời chỉ dạy ngọt ngào, êm thấm-như hạt nước mưa vẫn thấm nhuần trên đồng ruộng khô cằn, như không bao giờ lặp lại, với một thằng bé ở làng quê lúc nào cũng cảm thấy thiếu vắng tình thương, bị cách biệt trong gia đình. Khi mang theo tình thương của ông, tôi không bao giờ cảm thấy lo lắng, bởi tôi biết được rằng mình đã may mắn vì có ông bà như một nguồn an ủi vĩnh hằng mà so với những bạn bè khác vốn đã chẳng cảm nhận thứ tình thân đó ngay khi mới chào đời.

Chính điều đó khiến tôi không bao giờ muốn đánh mất chiếc áo dạ của ông tôi. Liệu có phải ông đã trải qua mùa Đông tê tái, mùa Đông khắc nghiệt nhất trong đời mà tôi chưa từng biết, mà tất cả những người năm ấy đã không thể qua khỏi vì cái rét bầm gan tím ruột. Đôi khi khoác trên mình chiếc áo, tôi luôn bị dị ứng vì mùi thuốc nhuộm hay sợi bông có thể khiến mũi mình hắt hơi liên tục, không làm sao khắc phục và bất cứ khi nào bị ẩm ông lại phải nhờ đến một vài tiệm giặt là để làm mới nó. Nếu so với những chiếc áo tôi có được lúc này, chiếc áo len dạ của ông đã quá lỗi thời, nhưng ký ức thì bao giờ cũng còn tươi mới và thơm mùi hạnh phúc. Trong khi tôi, một thằng bé luôn lôi thôi, lếch thếch, không chú ý về ăn mặc, lại được ông trao cho thứ cổ vật có một không hai, đã không dám thổ lộ với ai vì nghĩ rằng chiếc áo sẽ chẳng bao giờ như họ nghĩ.

Nhưng, bây giờ không khó để có được chiếc áo len dạ giống như của ông tôi và một vài hãng thiết kế uy tín vẫn chú ý đến tuổi tác của người già để làm ra những màu sắc phù hợp, thực ra vẫn có những người già ưa phong cách trẻ trung, và cái trẻ trung đó khiến lớp người ấy thêm yêu đời và thêm trẻ ra mỗi ngày. Như bà lão ở con ngõ Hội Vũ (Hoàn Kiếm, Hà Nôi) mà tôi gặp hôm ấy, bà ngồi một mình trước chiếc máy khâu, may hết mùa này sang mùa khác, như một nàng Bân vụng về mà giàu tình nghĩa, để tặng những chiếc áo len cho những trẻ nhỏ vùng cao, hay mỗi năm vẫn có những đồng bào trong đất liền thầm lặng gửi những chiếc áo trấn thủ ra miền hải đảo xa xôi để làm ấm lòng người lính trên quần đảo tiền tiêu đầu sóng ngọn gió, đã khiến tôi xao xuyến nhớ về ông tôi và chiếc áo của ông tôi như một ký ức đẹp nhất của cuộc đời. Tôi biết được rằng chiếc áo len dạ mà ông gửi lại cho tôi không phải là thứ hiện vật bằng vàng mà đại đa số người giàu vẫn sở hữu ấy hoặc những chiếc áo trấn thủ dành cho người lính hoặc trẻ em vùng cao mến thương có gì đặc biệt mà nó đem lại hơi ấm tình thương, tình người, tình đồng bào, chiến sỹ, rằng ông bà đã dành cho chúng ta tình cảm hơn tất cả thứ vật chất ở đời mà chẳng bao giờ tính đếm, luôn luôn ủ ấm trái tim, một sự nuôi nấng không thể đong đếm, một tình cảm gia đình còn quý hơn mọi thứ kim cương. Đúng vậy, trong cuộc đời mỗi người và cả tôi nữa, nếu không có thứ tình cảm đó trưởng dưỡng nên hình hài ta, thì rất có thể ta sẽ phải trả giá cho những lỗi lầm tệ hại trong cuộc sống, một cuộc đời cô đơn, tẻ nhạt, và thiếu vắng tình thân…

Ông tôi bao giờ cũng phát hiện ra trong cuộc đời tôi rằng tôi sẽ không bao giờ dành số tiền vô ích vào chuyện ăn mặc hoặc sắm sửa xa xỉ mà khoản thu nhập bấp bênh của một người sống ở thành phố rất có thể khiến tôi phải sống trong cảnh túng thiếu mỗi ngày, tôi ngắm nhìn chiếc áo của ông với một suy nghĩ, rằng tôi phải nên học ông tính tiết kiệm cần có. Dù ông có sống dậy, dù nói gì thì nói, tôi vẫn thầm cảm tạ ơn rất nhiều, vì ông không bao giờ dùng mệnh lệnh của người có tuổi để áp lên suy nghĩ tôi, luôn luôn như một người cha giàu tình cảm, quan tâm, nâng niu, cổ vũ, khích lệ, an ủi, thậm chí ông còn giải phóng tôi khỏi áp lực ảo tưởng về tiền bạc, luôn đưa ra ý kiến xác đáng, tạo cảm giác an toàn ở bất cứ nơi đâu. Tôi thường nghĩ nếu như một ngày nào đó tôi có thể vấp phải những thất bại ngoài dự tính của mình, dù tai nạn trên trường đời hay đánh mất bản tính khi còn trẻ, vì có tiếng nói từ nơi ông, theo suốt những năm tháng ấu thơ đến hết cuộc đời như một lời ru êm dịu, tôi đã biết tôi sẽ không trả hết ông công lao đó, và lúc nào đó tôi nghĩ rằng tôi đã trở nên vững vàng trong cuộc sống là nhờ tình cảm mẫu mực của một người lính mà ông thổi vào trí óc bé nhỏ như một liều thuốc an thần dễ chịu. Tôi phải học được sự nhẫn nại của tuổi già-bao giờ cũng cố ý gần gũi những người nhiều tuổi như thế để học được một điều gì đó mà khi còn trẻ thế nào cũng phải cần.

Trong nỗi niềm hy vọng thầm kín đó tôi đã không bao giờ để chiếc áo len dạ phải cũ sơn hoặc nằm trong một góc mà luôn đặt nó song song trong một hòm kín đáo, ở chỗ thuận tiện để kịp ngắm nghía và thêm nhớ về ông, nơi ông vẫn trở về trong một giấc mơ có thât; truyền cho năng lượng sống vạm vỡ, sẽ khiến tôi không mệt mỏi và bải hoải hoặc chán trường. Ông tôi mặc chiếc áo đó bao nhiêu lần? Tôi nhớ lại hình ảnh từ gian nhà tranh vách đất nghèo nàn từ con xóm nhỏ dẫn ra phía ngoài đông ở làng quê bé nhỏ, những đêm không điện đóm, những đêm đập lúa, những đêm một mình của tuổi già hiu hắt…Mỗi khi chạm nhẹ bàn tay lên cầu vai áo vuông vức tôi có cảm giác như thể ông đã trở về trong một mộng tưởng xa xôi và đang đứng ở cái cánh cửa chính để nhìn tôi và mỉm cười, đồng thời lại cổ vũ thôi như những năm tháng còn thơ ấu đó. Khi còn nhỏ, mỗi khi tôi trốn học bỏ nhà, bị cha mẹ la mắng-khi cha mẹ không thống nhất nhau trong việc dạy con cái ấy-ông tôi thường ngâm một câu Kiều để nhẹ nhàng khuyên nhủ, và cái ý nghĩa sâu sắc ẩn chứa trong đó sẽ khiến không khí gia đình trở nên dịu nguội hơn.

Bao giờ cũng vậy, tôi nhìn thấy ông lặng lẽ trở về vội vã, với những lần đi bộ xuyên rừng già trong đêm từ miền Lạng Sơn xa xôi hay như khi về phép bất chợt trong vài trò là thủy thủ của đoàn thuyền Cần Thơ ngày ấy. Nhưng tôi nghĩ rằng dù xa nhà đến thế bao giờ ông cũng dành cho gia đình bé nhỏ một tình cảm đặc biệt. Tình cảm đó luôn gợi có thể giúp gia đình tôi qua khỏi những mùa đói kém đến cùng cực ở cái gian tranh vách nứa bốn bề gió lộng mà chẳng bao giờ là đủ, ngay cả khi nghĩ lại, có thể không nghĩ rằng tôi đã sống trong vòng tay cùng sự nuôi nấng của ông, nhưng tôi đã không kịp báo đáp ngay cả khi ông còn sống-những bạn còn ông còn bà ạ…Tôi đã không đi đến tuyệt vọng về chuyện say mê học hành, khi mà bị người cha khó tính của tôi đã buộc phải rời khỏi nhà mà sự che chắn của ông đã khiến tôi hoàn thành được giấc mơ đại học dang dở. Trong gia đình bé nhỏ ấy, ông tôi bao giờ cũng là đứng ra bệnh vực cho lỗi lầm bé nhỏ nơi tôi, người dạy tôi phải biết nhẫn nhịn để sống. Nhưng lời chỉ dẫn gần gũi và nhẹ nhàng đó khiến tôi không bao giờ xa ngã trước cuộc đời khi từ ra làng quê để lên thành phố xa hoa lập nghiệp, với sự tiên đoán của người già về tính nông nổi và bông bột của tuổi trẻ.

Mỗi khi nhớ lại chiếc áo len dạ mà tôi gửi lại cho tôi và mấy chục năm sau, ở tuổi 30 của mình, quyết định xa nhà lập nghiệp, rời xa làng quê, đi hết nơi này đến nơi khác với tấm thẻ “nhà báo thông hành”, với kinh nghiệm non nớt tôi mang theo chiếc áo trong suốt cuộc hành trình và giữ nó luôn mới, để nhớ về ông với một kỷ niệm êm đềm. Không phải vì tôi thiếu thốn gì trong ăn mặc hoặc không dám bỏ tiền ra mua lấy một chiếc áo mới, bởi chiếc áo len dạ của ông chất chứa nhiều câu chuyện với ông, thậm chí không giống như mẹ tôi, ông rất ít khi từ chối mọi đề xuất của tôi trước cuộc đời. Bây giờ ông đã không còn nữa, cỏ đã mọc xanh rì trên tấm bia một nơi ông nằm nghỉ ở làng quê đượm buồn đó rồi. Tôi vẫn hằng ra đó thắp hương vào mỗi mùa Thanh Minh lặp lại. Khi ngắm nhìn gương mặt ông, tôi đã khóc rất nhiều. Ông đã không thể sống lại thêm một cuộc đời thứ hai, như ông đã từng sống với tôi như một người ông giàu tình cảm nhất. Nhưng tôi luôn có cảm giác là ông vẫn hiện hữu, cái tiếng nói nằng nặng vẫn đi kèm với lời dạy dỗ bao dung. Đôi khi, tôi trở lại căn nhà mà ông đã sống và ngồi trước góc nhà xưa cũ, tôi vẫn thấy bóng dáng ông đi về với về và mất hút vào trong tâm tưởng như gửi lại một lời nói cho tôi: ông bảo rằng một ngày nào đó tôi sẽ lớn khôn hơn ngày mà tôi có gia đình riêng với những đứa con đứa cháu bế bồng sẽ hiểu thế nào là tình cảm mà một người ông luôn dành cho cháu. Ông khéo khuyên nhủ vậy không phải vì ông cố động viên về cái kinh nghiệm tuổi già mà ông từng sống hay muốn quay lại ký ức, mà vì ông đã giống như bất kỳ người cao tuổi nào khi có tuổi cũng sẽ luôn khích lệ con cháu rằng “Một lúc nào đó cháu thành người già thôi!”. Cho đến giây phút cuối cùng khi từ biệt cuộc đời, lúc nào gặp tôi, ông cũng dành những lời dạy dỗ ngọt ngào và êm đềm như thế. Căn bệnh đường tiết liệu lâu năm, đã cướp ông khỏi cuộc đời tôi vào năm ấy. Bây giờ, trong tháng Thanh Minh muộn, đứng trước di ảnh ông cùng mọi người trong gia đình đáng mến của mình, những người đã lớn lên từ sự che chở và vòng tay bao dung ấy-niềm hạnh phúc dội về -như một câu chuyện tuổi già có thật, tôi luôn ước ông sẽ sống dậy để dìu tôi qua những năm tháng ấu thơ bồng bột.