Bờ xa – Truyện ngắn của Hồ Kiên Giang

Căn cứ Bến Đá là nơi đóng quân của Sư đoàn bộ binh 164 – một trong những đơn vị chủ lực của tập đoàn Pôn Pốt Iêng-xa-ry. Nó được tổ chức, xây dựng sau năm 1979, nằm trên trục đường biên giới Campuchia và Thái Lan thuộc tỉnh Kô-kông. Địch sử dụng căn cứ này để tiếp nhận quân lính, vật chất, vũ khí từ Thái Lan vào nội địa. Cũng từ đây, chúng tung lực lượng đi phục kích, đánh phá giao thông, nhất là tuyến hành lang dọc đường biên của ta và bạn. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Mặt trận 979 giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 4 tiến công tiêu diệt căn cứ Bến Đá, và đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bằng phương án “đánh bên sườn, phía sau”.

Mỗi khi lên lớp nội dung “Diễn biến tiến công căn cứ Bến Đá của Sư đoàn 4” do Mặt trận 979 tổng kết, Cục Huấn luyện Chiến đấu chọn làm tài liệu giảng dạy trong học viện, Đại tá Nguyễn Văn Thuận đều mở đầu như vậy. Gần ba mươi năm gắn bó nghề này, ông Thuận luôn đảm nhiệm truyền đạt kinh nghiệm trận đánh ông từng tham gia. Dĩ nhiên vì ông hiểu thấu đáo đến nỗi thuộc lòng từng chi tiết, từng dòng chữ mà không cần giáo án. Với ông, đó đâu chỉ là nghệ thuật quân sự tài tình mà còn kỷ niệm về người đồng đội như anh em ruột thịt luôn day dứt chưa yên hơn một phần ba thế kỷ. Mấy năm nay nghỉ hưu theo chế độ, ông về sống cùng vợ chồng con trai lớn và hai cháu nội trên đất Tây Đô, hoàn thành nhiệm vụ cống hiến trọn vẹn đời binh nghiệp. Đôi lúc ngó bộ quân phục treo trong tủ, lòng ông dấy lên bao cảm xúc xưa cũ. Thiên hạ thường nói, hồi đó đi làm đâu có rỗi rãi suy nghĩ, giờ ở không thì nhớ lại. Nhiều khi ông cố quên nhưng nó đeo bám hoài. Giống như chiều nay, thiếu tá Trần Trung Kiên và đại úy Thái Đại Ngọc – hai học viên đang đào tạo cấp trung, lữ đoàn đi thực tế tìm đến nhà để nghe ông kể lại trận đánh Bến Đá.

– Mèn đét ơi, hai đứa con tìm đúng chỗ, gặp đúng người, khơi đúng nguồn rồi nghen!

Ông Thuận cười khà khà pha bình trà nóng, hỏi thăm Kiên và Ngọc về gia đình, quê quán, học tập… Rồi ông mở bài y chang như thời làm giảng viên lên lớp ở học viện. Ông nói rành mạch từng giai đoạn từ công tác chuẩn bị, tổ chức trinh sát thực địa, lập phương án tác chiến đến xây dựng kế hoạch bảo đảm, diễn biến và ý nghĩa thắng lợi. Vẫn chất giọng hào sảng, dứt khoát khiến hai sĩ quan trẻ tưởng đang xem phim tài liệu phản ánh nét độc đáo trong bố trí lực lượng, xử lý tình huống của cha anh đang xa quê vì nghĩa lớn. Và bao giờ ông cũng kết thúc:

– Trận đánh căn cứ Bến Đá kết thúc lúc 13 giờ 30 phút, đúng ngày kỷ niệm 40 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12-1984, mang nhiều ý nghĩa to lớn. Đó là phá tan, chiếm giữ căn cứ cấp sư đoàn bộ binh của địch đã xây dựng từ lâu trên tuyến biên giới Campuchia – Thái Lan mà chưa lần nào ta hạ được. Đồng thời, làm thất bại âm mưu cơ bản của địch khi dùng nơi đây làm bàn đạp đưa lực lượng luồn vào nội địa đánh phá. Đặc biệt, qua trận đánh giúp cán bộ các cấp của ta nâng lên bước mới cả trình độ tổ chức và thực hành chỉ huy chiến đấu cũng như kỹ thuật của bộ đội; nhất là khả năng hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh làm cơ sở thực tiễn phong phú cho những trận đánh tiếp theo giành thắng lợi lớn hơn. Tuy sau đó, chiến thuật của ta có ít nhiều thay đổi cho phù hợp tình hình cụ thể nhưng nghệ thuật “đánh bên sườn, phía sau” trận Bến Đá luôn mẫu mực và đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

– Xin chú nói lại kết quả trận thắng này ạ! – Trung Kiên hỏi.

– Theo thống kê, ta làm tan rã hoàn toàn Sư đoàn bộ binh 164, diệt chết trên 200 tên, số bị thương và còn lại chạy về Thái Lan. Ta thu gần 400 khẩu súng pháo các loại, khoảng 350 tấn đạn dược. Tuy không biết cụ thể quân số của chúng bao nhiêu nhưng ở khu sư đoàn bộ 164, ta thu gần hai ngàn ba lô có đầy đủ quần áo, khăn, nón, tất cả đều mới. Như vậy, ước tính chúng trên hai ngàn tên. Mặt khác, chiến trường lúc bấy giờ khan hiếm lương thực, song, kho của địch chứa gần 350 tấn gạo chứng tỏ địa bàn này chúng rất tường tận và mưu đồ mở đường vận chuyển vượt hàng chục cây số từ Thái Lan về dự trữ. Nhờ vậy, giúp ta kịp thời cứu đói người dân nước bạn.

– Đó là phía địch, còn ta thì sao hả chú? – Trung Kiên lại hỏi.

– Một khi đánh nhau thì bên nào cũng thương vong, chiến tranh mà – Giọng ông Thuận trầm xuống – Một số tài liệu về trận đánh này có ghi là ta hy sinh và bị thương trên chục cán bộ, chiến sĩ.

– Chú có thể kể cho tụi con nghe về chiến sĩ nào đó thân thiết với chú được không? – Thái Ngọc chen vào.

Ông Thuận nhìn Ngọc nghĩ thầm, với sĩ quan trẻ như anh muốn tìm hiểu sự hy sinh của thế hệ trước là đáng quý. Bởi khi họ biết ơn quá khứ sẽ trân trọng hiện tại, vậy nên ông không thể viện lý do gì từ chối. Với lại, đây cũng chẳng phải lần đầu ông kể về đồng đội. Có điều là mỗi khi nhắc chuyện xưa, nội dung vẫn vẹn nguyên và cảm xúc rưng rưng trong ông không hề giảm bớt. Tính kỹ cũng hơn bốn mươi năm rồi chứ mới mẻ gì đâu, vậy mà ông ngỡ chỉ vài bữa trước.

*

*        *

Để chuẩn bị tiêu diệt căn cứ Bến Đá, cấp trên phân công ba tổ trinh sát thực địa; trong đó, tôi làm Tổ trưởng Tổ 1 với hai chiến sĩ là Nguyễn Thanh Tùng và Lê Văn Quốc vừa được bổ sung. Quốc quê ở Gò Quao, từng học Trường Thiếu sinh quân hồi kháng chiến chống Mỹ. Sau ngày đất nước thống nhất, nó học tới lớp chín thì nghỉ, ở nhà làm ruộng. Đầu năm 1984, Quốc tình nguyện nhập ngũ với suy nghĩ nhà có hai anh em trai, do người anh sức khỏe yếu nên không đi thì nó đi. Mãn khóa huấn luyện tân binh ở Sóc Trăng, Quốc được biên chế vào đơn vị làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Campuchia. Lúc mới qua đây, nó là lính bộ binh nhưng nhờ nhanh nhạy, cẩn thận, suy nghĩ và phán đoán khá chính xác nên cấp trên đưa vô tiểu đội tôi. Sở thích của nó là khoái đọc truyện, mê làm thơ. Nó kể hồi ở nhà, có ngày đi mần ruộng còn đem sách theo để tranh thủ nghỉ trưa đọc. Một lần, Quốc hí hửng khoe với tôi vừa làm xong bài thơ “Người không nói”, rồi đọc luôn:

“Em đứng đó lòng đầy bối rối

Tóc dài bay trong gió cao nguyên

Muốn yêu em nhưng sao nói được

Khi chúng mình không hiểu lời nhau

 

Nên chỉ biết trao nhau ánh mắt

Mà trong lòng xao xuyến niềm thương

Em chỉ biết cúi đầu đỏ mặt

Em là cô gái Khmer…” (1)

Quốc chưa đọc hết, tôi cắt ngang: “Mèn đét ơi, không lo đánh hết Pôn Pốt để về quê mà ở đó yêu với đương. Nè, mày có nhớ những điều cấm bộ đội mình trước khi qua đây không?”. Quốc cụt hứng, ngập ngừng: “Hình như… yêu con gái Khmer là… điều cấm đầu tiên đó. Mà em có yêu ai đâu, chỉ… thổ lộ chút chút thôi”. Tôi lớn hơn Quốc hai tuổi nên nó thường xưng hô như vậy. Nhiều lúc tôi trầm trồ, thán phục Quốc nhưng không nói ra. Ấy là dù đối diện với hiểm nguy, thậm chí hy sinh nhưng nó luôn mang tinh thần lạc quan, tâm hồn lãng mạn, trí tưởng tượng phong phú và sự liên tưởng đa chiều. Những ưu điểm ấy trong người lính trẻ chân chất này mà không phải ai cũng hội tụ đủ.

Qua trinh sát, chúng tôi phát hiện Sư đoàn bộ binh 164 Pôn Pốt có ý đồ đánh chiếm lại thị xã Kô-kông nên cho xe ủi bí mật làm đường từ biên giới giáp Thái Lan dài lên Kô-kông khoảng bốn mươi cây số, lập căn cứ Bến Đá. Khu vực này phần lớn là rừng già nguyên sinh với nhiều núi cao, rừng rậm trùng điệp tạo thế liên hoàn dọc bờ đông và tây sông Mê-tưk chạy dài sang đất Thái Lan. Đây là con sông lớn, mặt sông rộng, mùa mưa nước chảy xiết, mùa khô có thể vượt qua từng đoạn. Lòng sông nhiều bãi đá và đất cứng nhô lên, khi nước cạn xe cơ giới và xe kéo pháo có thể qua. Trong khi đó, đường sá chủ yếu lối mòn nhưng rất ít, lại nhiều suối sâu với những vách đá dựng đứng dọc hai bờ sông. Nhờ vậy, tạo thuận lợi cho địch tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ bí mật. Trước tình hình này, Sư đoàn 4 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 20 đập tan căn cứ; đồng thờ, hỗ trợ hỏa lực san bằng sở chỉ huy. Được tin ai cũng mừng ra mặt, bởi đơn vị tôi có kinh nghiệm luồn sâu với sở trường tác chiến độc lập, đánh phá phía sau địch, giờ cấp trên tin tưởng mới nhận được trọng trách này.

Trên đường đi trinh sát về, Quốc ra vẻ nói với tôi: “Với địa hình Bến Đá, khi ta tiến công gặp nhiều khó khăn cơ động lực lượng và vận chuyển binh khí kỹ thuật; không phát huy hiệu quả bắn thẳng của hoả lực; tầm quan sát hạn chế, khó xác định phương hướng, nhất là ban đêm. Chưa hết, thông tin liên lạc bằng vô tuyến hạn chế; việc bảo đảm xe, pháo di chuyển tốn nhiều thời gian và sức lực… Ngược lại, lúc ém quân lại bảo đảm bí mật, an toàn, cơ động ban ngày địch khó phát hiện, tạo điều kiện cho ta tiếp cận gần mà chúng không hề hay biết. Anh thấy em đánh giá đúng không?”. Nghe Quốc nói như người chỉ huy, tôi cười: “Mày diễn đạt giống y chang Trung đoàn trưởng Phong triển khai nhiệm vụ. Nhưng đó là cách nhìn của mày, chưa chắc thủ trưởng đồng ý. Với lại, mình đi trinh sát để báo cáo tình hình thực địa chứ không phải lập phương án, kế hoạch chiến đấu, lỡ phát biểu linh tinh ảnh hưởng tới phán đoán của cấp trên thì mệt lắm!”. Quốc không chịu thua: “Anh không thấy căn cứ Bến Đá tổ chức theo dạng trú quân sao? Rõ ràng chủ yếu dựa vào địa hình, địa vật có lợi phòng ngự, tiện sinh hoạt nên địch bố trí lực lượng phân tán trên diện rộng. Chúng coi đây là “miền đất thánh” mà, anh thấy đó, công sự đơn giản, đa số làm hình chữ U, mỗi cái cách nhau từ hai đến ba trăm mét tạo thành từng tuyến trên các sườn núi, còn lại dựa vào bờ sông, bờ suối phía đối diện với ta làm trận địa chiến đấu. Em mà chỉ huy hả, cho đánh bên hông, thụt vô đít là nó hết chạy!”. Dứt lời, Quốc cười sung sướng như vừa lập được thành tích xuất sắc. Sau đó mấy ngày, lúc gặp Đại đội trưởng Trinh sát Đạt sau cuộc họp báo cáo kế hoạch chiến đấu, tôi kể lại thì anh Đạt khen: “Thằng Quốc vậy mà giỏi he, nếp nghĩ của nó giống nhận định của chỉ huy. Ban đầu, mình xác định đánh Pôn Pốt như các lần trước nhưng nếu triển khai hướng chính diện rất khó thắng bởi khi chúng phòng ngự thì tổ chức gài mìn dày đặc, ta bị thương vong không đáng. Sau nhiều cuộc họp bàn, hội ý, cấp trên thống nhất phương án “đánh bên sườn, phía sau”.

Cũng trên đường về, lúc cắt rừng, chúng tôi gặp một bộ xương khô cùng khẩu súng AK bên thân cây mục. Lúc đi chúng tôi không phát hiện vì đêm tối, còn giờ thì trời hưng hửng sáng, không gian hơi u tối nhưng vẫn nhận rõ đó là hài cốt người. Thằng Tùng giật mình thốt lên: “Lần đầu em thấy cái này, ghê thiệt chớ!”. Anh em trong tiểu đội tôi hay giỡn gọi là “Tùng thỏ đế” vì nó sợ… ma, vậy mà hễ nhắc tới đánh Pôn Pốt thì nổi máu xung trận. Tùng lùi lại, còn Quốc bước tới chắp tay trước ngực, miệng lầm rầm khấn vái gì đó. Xong, nó thỏ thẻ: “Anh Thuận! Tuy không biết là đồng đội hay đối phương nhưng thịt da tan nát như tro bếp, xương cốt banh chành cũng không xác định được ai, bên nào. Em có cảm giác từng khúc xương giật mình thức dậy đang nhảy múa quanh em than thở rằng do chiến tranh kéo vô trận mạc tha phương giờ nằm hoài ở đây, chả có ai đem về”. Nghe Quốc nói tôi bỗng nổi da gà da vịt. Sau này, tôi đọc bài thơ “Nói với bộ xương” trong cuốn sổ tay của Quốc có đoạn:

“… Anh là ai, anh là ai?

Không một dòng kỷ vật

Không một gì vấn vương

 

Mưa rừng anh đã tắm

Đất rừng anh đã nằm

Lá rừng phủ kín anh

Gió rừng lay giấc mộng

 

Nếu là đồng đội tôi

Xin nén nhang thắp đỏ

Để tỏ lòng bên nhau

Còn nếu là địch thủ

Cũng xin giấc ngàn năm

Của một người đã chết

Trong một chiều cuối thu

 

Chiến tranh là nước mắt

Con người là chiếc khăn

Khăn ta đà thấm ướt

Nước mắt nhiều xót xa” (2)

Lúc đó tôi rất ngạc nhiên, ngỡ ngàng trước nhận thức và tư tưởng nhân văn trong người lính mười chín tuổi đời, chưa tròn một năm tuổi quân không phải ai cũng có như Quốc. Hay nói cách khác là một tâm hồn nhân bản có suy nghĩ về chiến tranh quá trưởng thành và chính chắn. Ngay cả bản thân tôi từng tham gia nhiều trận đánh, lập không ít chiến công nhưng chưa xuất hiện sự chiêm nghiệm giống vậy trước một người lính ngã xuống ở phía bên kia.

Trở lại trận đánh Bến Đá. Sau khi hoàn tất mọi công tác chuẩn bị, giờ G đã đến và chúng tôi xuất phát. Đơn vị tôi được phối thuộc Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn bộ binh 91 thuộc Quân Giải phóng Campuchia, cấp trên tăng cường Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 30, bổ sung pháo binh đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Nhiệm vụ chính là sau khi vượt sông Mê-tưk chiếm lĩnh trận địa sẽ đánh từ hướng bắc cao điểm 172. Đồng thời, tổ chức một lực lượng đánh tiêu diệt địch tại cao điểm 322, sẵn sàng hỗ trợ sườn trái đội hình của bạn và sườn phải đội hình đơn vị tăng cường cùng tiến công. Mặt khác, sử dụng một tiểu đoàn đánh thẳng hướng tây, cắt đường biên giới và ngăn chặn địch từ cao điểm 336 chi viện.

Gần một ngày hành quân luồn rừng, lội suối, vượt núi, có lần đơn vị tôi bị địch từ cao điểm 309 dùng hoả lực đánh ra hành lang cơ động phải rời bỏ con đường chuẩn bị sẵn, cắt đường mới trong điều kiện bộ đội mang vác nặng và khí hậu khắc nghiệt. Đến cao điểm 321 bên này sông Mê-tưk, tôi chọn một cây cao leo lên và nhìn qua cao điểm 172 thấy vài chỗ ngọn cây có cụm khói bay lên. Tôi đoán chắc bọn chúng đang nấu cơm chiều và quân số khá đông. Đêm đó, lợi dụng trời tối, đơn vị trinh sát chúng tôi dẫn đường cho các đơn vị vượt sông Mê-tưk chảy như thác đổ. Riêng tổ ba người chúng tôi có nhiệm vụ đưa hai đại đội và hỏa lực của Tiểu đoàn 1 qua sông. Vừa tới bờ sông, Quốc thì thào: “Anh Thuận! Anh có thấy bờ xa không?”. Tôi hỏi lại: “Bờ nào?”. Nó chỉ tay về phía trước: “Bờ bên kia đó!”. “Mèn ơi, mày rảnh quá he, tao có đo đâu mà biết. Lo chuẩn bị vượt sông đi”.

Nói xong tôi giật mình, sao tự dưng Quốc hỏi tôi như vậy. Bờ thì có xa có gần, tuỳ theo sông rộng hay hẹp chớ. Như con sông Mê-tưk này, bữa trước đi trinh sát chúng tôi đã vượt qua nhưng nó không hỏi. Lần đó, Quốc đề xuất trời chạng vạng tối là thời điểm thuận lợi để bố trí đội hình vượt sông, tránh bị địch phát hiện và tôi đồng ý. Với lại, địa hình vùng này toàn núi đồi rừng rậm, dốc lên xuống khá hiểm trở, trong khi chiến sĩ mới như Quốc không rành đường đi nước bước nên tôi yêu cầu phải thận trọng. Chúng tôi cởi quần áo, gói buộc cẩn thận vũ khí, đạn dược để vượt sông. Tôi phân công Quốc lội trước vì từ nhỏ nó là rái cá trên dòng Cái Lớn mênh mông. Đêm không trăng, nước sông Mê-Tưk không chảy xiết nhưng lạnh cóng. Chúng tôi lặng lẽ bơi, ra khỏi bờ độ ba mét thì hụt chân. Tôi thì thào: “Hai đứa coi chừng mạch ngầm nghen”. Đoạn sông này tôi chưa từng qua, cũng không thể đoán nó rộng bao nhiêu. Bơi được một đỗi tôi cảm giác chân mình đạp lên những hòn sỏi cuội, tiếp đến là ngực tôi tì lên bệ đá. Mừng quá! Dẫu sao có chỗ nghỉ mệt một chút cũng hay. Tôi quay lại định nói cho Tùng biết thì một loạt pháo sáng thả dài trên mặt sông xua tan màn đêm đen kịch. Quốc nhìn sang bờ bên kia, nói: “Chưa được nửa sông. Không kịp đâu anh Thuận, mình quay lại đi”. Ba chúng tôi vội vàng bơi trở lại. Sau mấy loạt pháo sáng nữa thì im lặng, có lẽ chúng đang kiểm tra. Bình tĩnh lại, chúng tôi mới vượt sông tiếp tục trinh sát. Hoàn thành nhiệm vụ, trên đường về an toàn, Quốc nói: “Nghĩ cũng kỳ, hồi nhỏ nhìn sông Cái Lớn trước cửa nhà em rộng mấy chục mét thấy xa tít mù. Lớn lên chút xíu nữa, em lội qua được thấy nó gần. Giống sông Mê-tưk vậy đó, chưa qua thì thấy xa, tới rồi mới biết gần xịt hà!”.

*

*        *

Ngồi nói gần cả buổi chiều, ông Thuận có vẻ mệt. Kiên và Ngọc nhận ra điều đó nên định về để ông nghỉ ngơi, bữa sau sẽ tới. Ông vội xua tay:

– Không sao, tại chú xúc động chứ sức khỏe còn tốt lắm. Mà nè, tụi con phải nhớ là đánh trận không nửa vời, kể chuyện không nửa câu, nhất là… yêu không nửa chừng.

Dứt lời, ông Thuận cười giòn làm hai người cười theo. Không khí dường như giãn ra, bớt căng thẳng như chuyện ông vượt sông Mê-tưk năm xưa. Tánh ông nào giờ vậy, ngay cả khi lên lớp cũng thỉnh thoảng nói giỡn vài câu giúp học viên thoải mái tinh thần tiếp thu nội dung. Ông nói đó là nghệ thuật truyền đạt môn quân sự luôn trong trạng thái căng cứng như dây đờn. Có lẽ, một phần nhờ vậy mà ông luôn đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi hàng năm của học viện.

– Sao hả đại úy Ngọc, tôi nói đúng không? À, con có vợ chưa? – Ông Thuận hỏi.

– Dạ, con cưới vợ hơn năm rồi chú. Cưới xong… con được cử đi học luôn.

– Vậy có muốn yêu… nửa chừng rồi nghỉ không? – Ông Thuận hỏi.

– Dạ, tụi con lo chú mệt, chớ đã mần thì… rốp rẻng luôn ạ – Ngọc dứt khoát.

Ông Thuận đang cười bỗng thoáng buồn:

– Ừ, nhưng Quốc thì… không được yêu rốp rẻng! Trước khi nhập ngũ, gia đình kêu cưới vợ nhưng nó nói để xong nghĩa vụ rồi tính. Ở quê mà, thời ấy mười bảy mười tám tuổi đã ngấp nghé dựng vợ gả chồng, qua hai mươi coi như ế. Ba má nhờ người mai mối tính làm đám nói nhưng Quốc không chịu, viện lý do lỡ có chuyện gì thì tội nghiệp đời gái lỡ dở. Một lần tôi hỏi có để ý thương ai chưa, Quốc lắc đầu. Tôi lại hỏi đã… thử yêu chưa, nó đỏ mặt nói: “Thánh thần ơi, ở quê em mà biết là bị hàng xóm chửi ngập mặt, khỏi ngóc đầu luôn đó anh. Mình đàn ông đàn ang không sao nhưng con gái người ta hết dám ra đường gặp ai. Xóm em có bà chị không chồng mà chửa phải bỏ nhà trốn đi xứ khác. Ba má em dặn hoài: “Léng phéng là chết nghe mậy!”, cho nên… dù muốn cũng đâu dám”. Quốc vừa kể vừa cười mãn nguyện kiểu bản thân làm tốt chuyện gì có lợi lắm. Tôi nhìn vóc dáng săn chắc lực điền, nước da ngăm, nhất là nụ cười hiền khô của Quốc mà nghĩ bụng sẽ khiến khối con gái chạy theo. Nhưng đáng tiếc… nó không may mắn!

– Sao vậy chú? – Ngọc nhanh miệng hỏi.

– Lúc đó trời tối khuất mặt rồi, bốn bề lạnh vắng, chỉ có tiếng ếch nhái, ễnh ương kêu râm ran. Quốc khẽ hỏi: “Anh Thuận! Hình như nước sông Mê-tưk chảy xiết lắm!”. Tôi gật đầu: “Ừ, dù chảy xiết cỡ nào mình cũng qua, không vì lý do gì mà trở lại. Kế hoạch tác chiến đã phê duyệt thì phải xông lên, xốc tới chứ đâu thể rút lui”. Lại cởi quần áo, gói buộc vũ khí, đạn dược cho chuyến vượt sông. Tôi đoán sông rộng chừng năm mươi mét, giữa dòng có mô đất đá nhô lên mà lần trước tôi… nghỉ mệt. Lần này tôi bơi trước, tiếp đến là Tùng và cuối cùng là Quốc. Đến giữa dòng, Quốc ra ám hiệu nghỉ mệt nhưng tôi nói nếu đi chậm, anh em sẽ sốt ruột lo lắng mình gặp bất trắc nên phải tranh thủ từng giây từng phút. Với lại, chúng tôi hiệp đồng với đơn vi rằng khi qua bên kia sông, quan sát tình hình thuận lợi sẽ cử Quốc quay lại đón bộ đội. Vậy là dù mệt và lạnh vẫn cố bơi. Nhưng khi vô tới bờ tôi không thấy Quốc. Nhìn mặt sông lăn tăn gọi sóng, nước chảy chậm, tôi cử Tùng quay lại đường cũ kiếm Quốc và đón bộ đội theo kế hoạch.

– Chú nói địch không bắn pháo sáng để kiểm tra như lần trước đi trinh sát, không lẽ chú Quốc bị vọp bẻ rồi nước cuốn đi?! – Kiên sốt ruột hỏi.

– Không phải vậy – Ông Thuận lắc đầu nhè nhẹ – Tôi báo cáo với chỉ huy, lập tức đơn vị điều động lực lượng công binh tìm kiếm Quốc từ chỗ tôi xuống hạ nguồn. Các đơn vị còn lại vẫn thực hiện theo kế hoạch. Sau khi vượt sông Mê-tưk, bộ đội áp sát các chốt của Sư đoàn bộ binh 164, cách chừng trăm mét, dài hàng cây số. Trời vừa hửng sáng, Tiểu đoàn 1 đang ở đầu đội hình nổ súng nhưng bị đánh giạt ra. Đến khoảng tám giờ, đột nhiên, tôi nghe tiếng nổ long trời lở đất phía sở chỉ huy của chúng làm người tôi rung rinh, chao đảo; cột khói bốc cao ngun ngút. Sau này tôi mới biết đó là kho vũ khí của Khmer Đỏ do lực lượng đặc công của ta đánh phá. Lập tức, cấp trên lệnh cho bốn khẩu pháo 105mm cùng các đơn vị bộ binh đồng loạt nổ súng tiến công. Do địa hình rừng núi, cây cối um tùm nên đánh giằng co quyết liệt hơn ba giờ ta mới đập tan căn cứ Bến Đá, làm chủ tình hình. Đương nhiên, thắng lợi thì mừng lắm nhưng để có được phải đánh đổi biết bao tánh mạng đồng đội.

– Lực lượng đặc công tìm được chú Quốc không chú? – Kiên hỏi.

– Làm sao tìm được hả con? – Giọng ông Thuận nghèn nghẹn, mắt rưng rưng – Hai ngày sau mới gặp Quốc. Nó nằm trên tảng đá cặp bờ sông Mê-tưk, cách chỗ chúng tôi vượt sông khoảng hai mươi cây số. Tức là chỗ Tiểu đoàn 2 gói buộc quần áo, đạn dược chuẩn bị vượt sông. Toàn thân Quốc tím bầm, mọi người đoán nó bị rắn độc cắn nên không thể bơi tiếp chứ không hề thương tích do bom đạn. Tôi luôn nghĩ, lúc bơi ra giữa sông, Quốc ra ám hiệu nghỉ mệt là biết mình bị rắn cắn. Nếu Quốc nói chúng tôi sẽ quay lại, hoặc có thể nó sợ bị địch phát hiện, trận đánh sẽ thất bại nên im lặng. Vậy là nó đuối sức, chấp nhận đau đớn và ra đi. Mấy chục năm qua tôi luôn day dứt chuyện này, chỉ một chút lơ là… mà không thể sửa chữa. Tôi nhớ bữa về Gò Quao báo tin cho gia đình Quốc, ba má nó khóc nhiều, nói không hết câu: “Đã đi đánh giặc là chấp nhận hy sinh, đâu ngờ con trai không chết vì bom đạn kẻ thù mà…”.

Ông Thuận đưa tay từng cầm súng chiến đấu và được mệnh danh “Thần bắn tỉa” giờ run run lau nước mắt. Kiên và Ngọc cũng xúc động bùi ngùi. Ngọc hỏi:

– Sau này chú có trở lại sông Mê-tưk không?

– Có chứ! Hồi tôi làm giảng viên được về lại chiến trường xưa vài lần. Mấy năm nay nghỉ hưu cũng qua đó đôi ba bận. Mà mỗi khi đi dọc bờ sông Mê-tưk, tôi luôn nhớ Quốc và tự hỏi rằng, ở nơi nào đó, nó đã qua bờ bên kia chưa hay mãi mãi không bao giờ tới?!

Giọng ông Thuận nhẹ hều mà nghe nặng trịch, tưởng tiếng ai đó từ đáy sông đang trồi lên./.

 

* (1) và (2): Thơ của liệt sĩ Lê Quốc Văn.